Thách thức với Việt Nam về nguồn nhân lực cho công nghiệp bán dẫn: Cả thầy và trò phải là những con người tâm huyết

Ngày 26/4/2024, Hội Vô tuyến Điện tử Việt Nam (REV) và Đại học Bách khoa Hà Nội (HUST) đã phối hợp tổ chức hội thảo 'Chương trình đào tạo cho ngành công nghiệp vi mạch bán dẫn đến năm 2030 – Thách thức và giải pháp' với sự tham gia của hơn 30 đại học trong cả nước có ngành điện tử - viễn thông.

Phát biểu khai mạc, TS Trần Đức Lai - Chủ tịch REV - cho biết: “Chúng ta đang thực hiện chiến lược chuyển đổi số quốc gia, trong đó một số lĩnh vực công nghệ đang phát triển nhanh chóng như AI, IoT, Điện toán đám mây, Dữ liệu lớn, công nghệ 5G, 6G ... tất cả đều trên nền tảng quan trọng, không thể thiếu đó là vi mạch bán dẫn. Chính phủ Việt Nam cũng đã xác định phát triển ngành Công nghiệp vi mạch bán dẫn là mũi nhọn, để thực hiện thành công chiến lược này ngoài chiến lược và chính sách phát triển đúng; đầu tư thích đáng, có trọng tâm, trọng điểm thì phát triển nguồn nhân lực là yêu cầu cấp bách, mục tiêu là tới 2030 chúng ta cần có khoảng 50.000 kỹ sư trong lĩnh vực này”.

Cũng theo TS. Trần Đức Lai, hiện Việt Nam đang đứng thứ 9 toàn cầu về xuất khẩu hàng điện tử, và được quốc tế đánh giá là nước có hệ sinh thái bán dẫn phát triển nhanh. Có thể khẳng định rằng công nghiệp bán dẫn là ngành công nghiệp nền tảng, nó sẽ là ngành công nghiệp trọng yếu của quốc gia trong vòng 30 – 50 năm tới, vì khi con người còn phát triển dựa trên thông tin, dựa trên dữ liệu như một yếu tố đầu vào của sản xuất, thì chip bán dẫn sẽ vẫn còn đóng vai trò trọng yếu, còn có nhu cầu về xử lý dữ liệu, tức còn có nhu cầu sử dụng chip bán dẫn.

Phát biểu đề dẫn hội thảo, PGS.TS. Nguyễn Phong Điền - Phó Giám đốc HUST - nhấn mạnh về yêu cầu nguồn nhân lực từ 30.000 – 50.000 phục vụ ngành kỹ sư vi mạch trước năm 2030 vừa là cơ hội, vừa là thách thức với các trường đại học trong việc xây dựng chương trình đào tạo. Dù các trường đại học lớn như Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Bách khoa Hồ Chí Minh đã có kinh nghiệm trong đào tạo kỹ sư thiết kế vi mạch bán dẫn, thế nhưng để đảm bảo chất lượng và số lượng trước sự bùng nổ về nhu cầu, trước sự đầu tư của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) thì sự chia sẻ và hợp tác giữa các trường về cách đào tạo, giảng dạy, nghiên cứu và thực hành cho ngành vi mạch cần phải được thực hiện một cách hiệu quả và đồng bộ.

Do đó, theo PGS.TS. Nguyễn Phong Điền, việc xây dựng chương trình đào tạo càng phải được căn cứ vào nhu cầu thực tế về số lượng và chất lượng từ các doanh nghiệp, đó là việc đầu tiên cần làm. Từ đó các trường cần xác định trong 50.000 kỹ sư vi mạch có các khối kiến thức, kỹ năng sau 4 năm đào tạo có thể làm việc được, làm việc ở đâu trong lĩnh vực nào của vi mạch bán dẫn.

“Để việc nghiên cứu có hiệu quả thiết thực và bám sát nhu cầu thị trường, việc thực hành của sinh viên và nghiên cứu của giảng viên có vai trò quan trọng trong việc đào tạo các nguồn nhân lực chất lượng cần sự chung tay của các bên liên quan, các ban bộ ngành, các cơ quan, các doanh nghiệp lớn ở Hà Nội và TP.HCM”, PGS.TS Nguyễn Phong Điền nói.

PGS.TS. Hoàng Minh Sơn - Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo - nhấn mạnh hội thảo “Chương trình đào tạo cho ngành công nghiệp vi mạch bán dẫn đến năm 2030 - Thách thức và giải pháp” diễn ra sát với thực tế đặt ra hiện nay.

Theo Thứ trưởng, hiện nay Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Chiến lược KHCN tới năm 2030 xác định công nghiệp sản xuất chíp vi điều khiển, linh kiện bán dẫn là một trong những công nghệ lõi được định hướng trong thập kỷ tới. Bộ Thông tin và Truyền thông đang xây dựng chiến lược phát triển công nghiệp vi mạch bán dẫn cho Việt Nam tới năm 2030, trong đó nêu rõ tầm nhìn, mục tiêu, lộ trình, giải pháp, các chính sách ưu tiên… Bộ Kế hoạch Đầu tư có dự án phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn tới năm 2030 và định hướng tới năm 2045. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã có nhiều chương trình, dự án tới các trường trong toàn quốc liên quan tới đào tạo, phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho chiến lược này.

“Do đó, việc tập trung đào tạo kỹ sư cho ngành công nghiệp bán dẫn là một hướng đi chiến lược, có yếu tố quyết định để có thể tận dung cơ hội tiếp cận, chuyển giao công nghệ, thúc đẩy sự phát triển kinh tế nhanh, bền vững, đồng thời cũng là yếu tố quan trọng để chúng ta thực hiện chiến lược Make-in-Việt Nam. Nhận thức được vấn đề này, nhiều trường trên toàn quốc có chương trình đào tạo liên quan tới vi mạch bán dẫn”, Thứ trưởng Hoàng Minh Sơn chia sẻ.

Tuy nhiên theo Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Hoàng Minh Sơn, việc ra đời một ngành đào tạo mới không hề đơn giản. Mã ngành cũng chỉ là một con số, việc ra đời một ngành đào tạo mới phải như thế nào. Nó chỉ có 2 cách, một là ngành lớn phát triển quá mạnh, phạm vi về kiến thức, nền tảng khoa học quá rộng và phân nhánh nên chúng ta cần có một ngành đào tạo mới. Hai là ghép 2, 3 ngành ở hiện tại, chẳng hạn như ngành cơ điện tử là ngành lai ghép. Đồng thời việc đào tạo ngành mới không hề dễ dàng. Giảng viên ngành mới có không hay vẫn là các thầy cô là giảng viên mạch điện, điện tử, thiết kế… Và ngành mới sẽ có bao nhiêu trường có thể đào tạo được? Thế nên theo Thứ trưởng, yêu cầu đặt ra đó là phải có chương trình đào tạo, có nền tảng kiến thức, có chuẩn đầu ra thì mới xếp ngành được.

Đáng chú ý trong các tham luận tại hội thảo là ý kiến của PGS TS Nguyễn Ngọc Bình – Hiệu trưởng Trường Đại học CMC. Ông cho biết là không có gì là không thể làm được cả và nếu rất muốn cùng quyết tâm thì sẽ có thể thành công. Do đó, để theo đuổi lĩnh vực này thì cả thầy và trò đều phải là những con người tâm huyết và dám đương đầu với thách thức, khó khăn. Tuy nhiên, để đào tạo được nguồn nhân lực cho công nghiệp vi mạch bán dẫn thì đương nhiên phải đào tạo bài bản và có đủ các phương tiện kỹ thuật cả về phần cứng và phần mềm.

Vẫn theo PGS TS Nguyễn Ngọc Bình, bản thân các bậc thầy trong lĩnh vực này cũng phải được đào tạo để cập nhật các kiến thức mới nhất về công nghiệp vi mạch bán dẫn. Không chỉ có vậy, một câu hỏi mà các bậc thầy phải trả lời là chip bán dẫn mà họ cùng sinh viên sẽ thiết kế được phục vụ cho lĩnh vực cụ thể nào và phải nắm vững cả chuyên môn của các lĩnh vực đó. Mô hình đào tạo có thể với xuất phát điểm từ học sinh tốt nghiệp phổ thông hoặc là theo hình thức văn bằng 2 cho những người đã có chuyên môn về điện tử - viễn thông, công nghệ thông tin…

Thêm một thực tế nữa là để trở thành chuyên gia thiết kế chip bán dẫn thì những người tham gia công việc này không chỉ giỏi về phần cứng mà phải giỏi cả về phần mềm. Thêm nữa là sau khi thiết kế xong thì còn phải chế thử chip vi xử lý và lý tưởng nhất là Việt Nam phải có được nhà máy để làm công việc này. Đó là việc mà rất cần đến những đầu tư của Chính phủ với số tiền có thể lên tới hàng chục tỷ USD.

PGS TS Nguyễn Ngọc Bình chỉ ra thêm một thực tế, là việc đào tạo nhân lực cần đông về số lượng nhưng cũng phải đi đôi với chất lượng. Cùng với việc đó, trong số nhân lực 50.000 người như mục tiêu đặt ra cho đến 2030 thì chỉ nên có 15.000 làm về thiết kế chip và số còn lại là để tham gia các công đoạn khác. Trong số nhân lực này, phải có được 500 tiến sĩ và 7.500 thạc sĩ.

Do cơ sở vật chất cả về phần cứng lẫn phần mềm đều hết sức đắt đỏ, nên các đại học cần liên kết với nhau để dùng chung và lý tưởng nhất là có sự hợp tác với các doanh nghiệp trong lĩnh vực này để sử dụng cơ sở vật chất của họ cùng việc thực hiện sản phẩm theo yêu cầu của doanh nghiệp – PGS TS Nguyễn Ngọc Bình đề cập.

Kết luận hội thảo, Chủ tịch REV Trần Đức Lai cho biết, sẽ tập hợp các ý kiến đóng góp để chuyển đến Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm góp phần bổ sung, hoàn thiện dự thảo Chiến lược quốc gia cho phát triển nguồn nhân lực với công nghiệp bán dẫn. Ông cũng bày tỏ mong muốn các cơ sở đào tạo tham gia hoạt động này sớm hình thành một liên minh trong cơ chế của REV để cùng thống nhất về chương trình đào tạo, sử dụng chung cơ sở vật chất và chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm với nhau.

Trịnh Nguyễn

Nguồn VHPT: https://vanhoavaphattrien.vn/thach-thuc-voi-viet-nam-ve-nguon-nhan-luc-cho-cong-nghiep-ban-dan-ca-thay-va-tro-phai-la-nhung-con-nguoi-tam-huyet-a24513.html